Nghệ Sĩ Năm Châu – Bậc Thầy Cải Lương

Trong lịch sử sân khấu cải lương miền Nam, khi người ta nhắc đến tên những nghệ sĩ tiền phong có công khai sáng và vun bồi cho nền ca kịch cải lương thì tên tuổi của nghệ sĩ Năm Châu được kể ở hàng đầu, trước những tên tuổi lẫy lừng của những nghệ sĩ tài danh cùng thời. Công bằng mà nói thì mỗi nghệ sĩ tiền phong đều có biệt tài riêng, mỗi người có một sở trường riêng, mỗi người đều để lại dấu ấn sâu sắc qua các vai tuồng gọi là « để đời » vì khó có nghệ sĩ khác diễn vai đó hay hơn họ.

Ví dụ : khi nhắc đến vai Lữ Bố thì người ta nhớ ngay đến cô Phùng Há. Nhắc vai An Lộc Sơn là nhớ đến Năm Châu trong tuồng Trường Hận. Nói đến cô Năm Phỉ thì nhớ đến vai Bàng Quí Phi trong tuồng Xử Án Bàng Quí Phi. Nhắc đến nghệ sĩ Tám Danh là nhớ đến vai Hà Công Yên trong tuồng Tứ Đổ Tường; nhắc đến Út Trà Ôn là nhớ vai thằng Gù trong tuồng Hoàng Tử Lưng Gù, nhắc đến quái kiệt Ba Vân là nhớ đến vai Phê trong tuồng Khi Người Điên Biết Yêu….

2

Về phương diện sáng tác, các soạn giả tiền phong cũng có những biệt tài làm cho tác phẩm của mình mang những sắc thái riêng biệt, góp phần thêm phong phú cho nội dung và hình thức ca kịch cải lương. Ví dụ khi nói tới soạn giả Năm Nở là người ta nhớ ngay những vở cải lương trào phúng. Nói tới soạn giả Mộng Vân là người ta nhớ ngay những tuồng kiếm hiệp và các bài ca nhỏ gác vọng cổ, đã có một thời kỳ các tuồng cải lương kiếm hiệp nầy ngự trị trên rất nhiều đoàn hát lớn, nhỏ ở miền Nam. Nói đến soạn giả Tư Chơi, người ta nhớ ngay sáng kiến đưa những bản nhạc Tây lời Việt trong các tuồng Hoạt Kê Hài Hước (như loại opérette musicale của Pháp), các bài nhạc dùng trong các vở hoạt kê hài hước nầy do nghệ sĩ Tư Chơi sáng tác, có thể dùng các cây đàn cổ nhạc và các nhạc cụ phương Tây để cùng hòa tấu. Nhắc đến soạn giả Bảy Cao, khán giả nhứt định nhớ đến các loại tuồng xã hội chiến tranh mà khán giả và báo chí kịch trường gọi nôm na là loại tuồng «Cắc Bùm ».

Nhưng nhắc đến nghệ sĩ kiêm soạn giả Năm Châu thì gần như trên lãnh vực nào về sự hình thành và phát triển của nghệ thuật sân khấu cải lương, nghệ sĩ Năm Châu cũng được người trong giới nghệ sĩ nhìn nhận anh là người đầu tiên đã khai sáng hoặc đóng góp công lao nhiều nhất. Nghệ sĩ Năm Châu vừa là một diễn viên kỳ tài, vừa là một soạn giả có nhiều tuồng hay, vừa là đạo diễn sân khấu đầu tiên áp dụng kỹ thuật tân tiến của sân khấu Tây Phương vào nghệ thuật sân khấu Việt Nam. Anh Năm Châu từng là Bầu của nhiều đoàn hát lớn, nơi mà anh thực hiện chủ trương tạo dựng một sân khấu « Thật và Đẹp » và cũng là nơi mà anh đào tạo được nhiều thế hệ nghệ sĩ kế thừa, những hạt ngọc của sân khấu cải lương, thoại kịch, điện ảnh trong các thập niên 50, 60, 70.

Nghệ sĩ Năm Châu cũng là giáo sư kịch nghệ khóa đầu tiên của trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ Saigon khi ông Nguyễn Phụng đảm nhiệm chức vị Giám Đốc trường năm 1962. Anh Năm Châu cũng là người Trưởng Đoàn đưa nghệ sĩ cải lương miền Nam đi biểu diễn ở Pháp, Anh Quốc và các nước Tây Âu trong dịp có Hội Nghị Bốn Bên bàn về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam năm 1969 tại thủ đô Paris.

 Untitled 1

Khi xưa, giải Thanh Tâm tuồng hay 1966. Vở hát “Nước Biển Mưa Nguồn” của soạn giả Nguyễn Thành Châu trúng giải. Luật Sư Dương Tấn Trương gắn huy chương vàng cho soạn giả, nghệ sĩ Năm Châu. (Hình: Bộ sưu tập của Ngành Mai)

Và chót hết, không thể không nhắc tới những hoạt động của anh Năm Châu trong lãnh vực điện ảnh khi anh thực hiện các phim tuồng chuyển từ các vở cải lương và trong lãnh vực chuyển âm, lồng tiếng cho các phim ngoại quốc khi ngành nghệ thuật này mới phôi thai trong những năm 1950 – 1960.

Viết về tiểu sử và sự nghiệp của một nghệ sĩ kỳ tài như Năm Châu thì một người dù hiểu biết sâu sắc đến đâu, có trí nhớ tuyệt diệu cách nào cũng khó có thể viết cho đầy đủ, chu đáo và mạch lạc, nhất là trong hoàn cảnh đang ở xứ người, thiếu tài liệu tham khảo.

Tôi có cái danh dự được sinh ra cùng một làng, một tỉnh Mỹ Tho và cùng học một trường Trung Học Mỹtho với anh Năm Châu, tôi lại có dịp làm việc cho đoàn hát Việt Kịch Năm Châu từ năm 1952 đến năm 1955, thời kỳ cực thịnh của đoàn hát Việt Kịch Năm Châu với vở tuồng « Tây Thi, Gái Nước Việt » mà anh Năm Châu làm đạo diễn. Anh Năm Châu cũng thủ một vai quan trọng trong tuồng Tây Thi, có khi anh thủ vai vua Ngô Phù Sai, có khi anh thủ vai Phạm Lải.

Tôi cũng được hân hạnh học hỏi và theo dõi cách thức anh Năm Châu đạo diễn các vở tuồng Miếng Thịt Người, Hàm Lệ Thái Tử nước Đan Mạch và tuồng Gió Ngược Chiều. Sau đó tôi có nhiều dịp được cộng tác với anh Năm Châu và chị Kim Cúc trong phim trường Mỹ Vân khi anh đạo diễn phim Bóng Người Đi, lấy cốt truyện và đối thoại trong tuồng cải lương Hai Hình Bóng Một Cuộc Đời của tôi sáng tác, hát trên sân khấu Thanh Minh Thanh Nga.

Tôi hy vọng những gì tôi viết về anh Năm Châu sẽ là những tài liệu đóng góp cho những nhà sưu khảo và nghiên cứu về lịch sử sân khấu cải lương Việt Nam trong ba thập niên 50, 60, 70.

Untitled 2

Anh Năm Châu tên thật là Nguyễn Thành Châu, sanh ngày 09 tháng 01 năm 1906, tại tổng Thuận Trị, làng Điều Hòa, tỉnh Mỹtho. Theo lời của anh Tám Kiết, quản lý đoàn hát Việt Kịch Năm Châu( chồng của cô Tám, em ruột của anh Năm Châu) cha của anh Năm Châu là một công chức Tòa Bố Mỹtho, vì làm mích lòng ông Tỉnh Trưởng người Pháp nên bị thuyên chuyển ra làm việc ở đảo Phú Quốc, tỉnh Rạch Gía. Anh Năm Châu học năm thứ hai Ban Thành Chung trường Trung Học Mỹtho, nhân dịp nghĩ hè, anh ra Phú Quốc thăm cha. Đến ngày tựu trường, vì bão tố, tàu bè không thể trở về đất liền kịp ngày nhập học, anh bị trễ nên bị cúp học bổng và bị đuổi. Gia đình định cho anh tiếp tục học ở trường Taberd Saigon nhưng anh quyết định tự lập, theo nghiệp cầm ca, anh gia nhập gánh hát Thầy Năm Tú ở Mỹtho (1922).

Thầy Năm Tú, người có du học ở Pháp về, đem lối diễn kịch của Pháp ra hướng dẫn cho đào kép trong gánh hát của ông để thay dần lối Ca Ra Bộ, lối hát cũ của gánh hát Cirque Sadec – Amis của thầy Thận. Ngoài ra ông thầy tuồng Mạnh Tư Trương Duy Toản cũng tập cho cách hát và ra bộ trong các tuồng Trang Tử Cổ Bồn Ca, Kim Vân Kiều, Lục Vân Tiên – Nguyệt Nga của ông sáng tác. Những nghệ sĩ nổi tiếng của gánh hát Thầy Năm Tú có Năm Châu, Tám Mẹo, Ba Du, Ba Thâu, các cô Ba Nhàn, Ba Liên, Sáu Huề…

Khi tôi vào cộng tác với đoàn hát Việt Kịch Năm Châu, trong những lúc nói chuyện tâm tình, anh Năm Châu thường nói cho chúng tôi (các nghệ sĩ trong đoàn hát) biết là anh đã học được nhiều bài học quý báu trong nghề hát nhờ nơi thầy Năm Tú. Việc anh khai sáng một dòng nghệ thuật cải lương tuồng Tây song song với dòng cải lương tuồng Tàu đang thịnh hành nhất lúc bấy giờ là do ành hưởng sâu sắc của ông Bầu kiêm Đạo diễn thầy Năm Tú.

Theo dõi những năm đầu khởi nghiệp cầm ca của nghệ sĩ Năm Châu, tôi được biết :

• năm 1922 đến 1924, anh hát cho đoàn hát thầy Năm Tú, hát các tuồng Bùi Kiệm Nguyệt Nga, Trang Tử thử vợ, Thúy Kiều – Kim Trọng, Lục Vân Tiên…

• Năm 1923, anh sáng tác hai tuồng : Nghĩa Bộc Thủ Phần và Tiên Biệt Phu.

• Từ năm 1925 đến năm 1928, anh Năm Châu và cô Phùng Há hát cho đoàn hát Tái Đồng Ban của ông Bầu Hai Cu, chủ tiệm vàng ở Mỹtho, tuồng Sở Vân té lầu, Tra Án Quách Què, Xử Án Bàng Quí Phi, Tang Đại Giả Gái. Anh Năm Châu sáng tác các vở tuồng Anh Hùng Náo Tam Môn Nhai, Tái Sanh Duyên, Mổ Tim Tỷ Can, Thôi Tử Thí Tề Quân, Võ Tòng Sát Tẩu.

• Năm 1926 : sáng tác vở Mộc Quế Anh. Khi hát tuồng nầy, anh Năm Châu thủ vai Dương Tôn Bảo, cô Phùng Há thủ vai Mộc Quế Anh, về nghệ thuật ca diễn, Năm Châu và Phùng Há là hai diễn viên được coi là thượng thặng lúc bấy giờ. Trước đó đoàn hát Nam Đồng Ban ( tiền thân của đoàn Tái Đồng Ban) có hai diễn viên xuất sắc là kép Hai Giỏi và đào Năm Phỉ. Khi Hai Giỏi bị bịnh mất, cô Năm Phỉ buồn quá, bỏ gánh hát mà đi thì ông bầu Hai Cu mời Phùng Há về thế Năm Phỉ, Năm Châu thế cho Hai Giỏi. Khán giả ái mộ tặng cho đôi diễn viên nầy hai câu vui : Năm Châu câu Phùng Há, Phùng Há đá Năm Châu.

Tình cảm giữa đôi diễn viên trai tài gái sắc Năm Châu –Phùng Há vừa chớm nở thì ông thầy đờn kiêm soạn giả Tư Chơi đến trước một bước, ông sống chung với cô Phùng Há và có đứa con gái đầu lòng : đặt tên là Bửu Chánh(1926). Hai năm sau, cuộc tình duyên nầy tan rã, ông Tư Chơi rời gánh hát Nam Đồng Ban, cô Phùng Há về Hạc San bên Tàu thăm quê nội, gởi con gái Bửu Trân cho em ruột của cô là Trương Liên Hảo dưỡng nuôi. Chồng của Liên Hảo họ Lý, cải họ cho dưỡng nữ là Lý Bửu Trân.

Năm 1929, Năm Châu và Phùng Há gia nhập đoàn hát Huỳnh Kỳ của ông Bầu Phước Georges tức Bạch Công Tử. Nghệ sĩ Năm Châu sáng tác tuồng Thôi Tử Thí Tề Quân, Mổ Tim Tỷ Can. Hai nghệ sĩ Năm Châu, Phùng Há nổi danh là một cặp đào kép xuất sắc, thinh sắc lưởng toàn khi hát các tuồng Giọt Máu Chung Tình, Võ Tánh Tử Tiết, Mộc Quế Anh, Phụng Nghi Ñình của soạn giả Mộc Quán Nguyễn Trọng Quyền. Cô Phùng Há trở thành bà Bầu gánh hát Huỳnh Kỳ, chung sống với chồng là Bạch Công Tử Phước Georges (Georges Lê Công Phước).

Nghệ sĩ Năm Châu kết duyên với nữ nghệ sĩ Ngọc Trâm, nghệ sĩ tài sắc nổi danh từ sân khấu đoàn hát Tập Ích Ban, dưới sự đào luyện của thầy tuồng Mộc Quán Nguyễn Trọng Quyền. Nữ nghệ sĩ Ngọc Trâm về đầu quân gánh hát Huỳnh Kỳ, cùng đóng vai đào nhì với nữ danh ca Tư Sạng, đứng sau ngôi sao sáng nhất đương thời là nữ nghệ sĩ Phùng Há.

Trong thời gian nầy, vai trò của nghệ sĩ Năm Châu sáng chói nhờ tài ca diễn và được khán giả khen là kép đẹp trai nhứt lúc bấy giờ, ngoài ra nghệ sĩ Năm Châu còn được biết đến như một ông thầy tuồng tài ba, có nhiều vở hát thành công và anh cũng là một ông đạo diễn giỏi, dạy nghề hát cho các nam nữ nghệ sĩ trong đoàn như các anh Tư Út, Năm Thiên, các cô Ngọc Trâm, Tư Sạng, Phùng Há, Ba Liên…

Từ năm 1929 đến năm 1936, thời gian nghệ sĩ Năm Châu cộng tác với gánh hát Huỳnh Kỳ, anh đã sáng tác được các tuồng Tội của Ai, Ngọn Cờ Hiệp Sĩ, (1927), Tiếng Nói Trái Tim ( 1928 ), Bằng Hữu Binh Nhung (phóng tác tiểu thuyết Les trois mousquetaires của Alexandre Dumas fils), Hồn Chinh Phụ ( 1930 ),Mộng Hoàng Công Chúa, sau đổi tựa là Huyền Châu Nữ, hai vở nầy hợp soạn với soạn giả Tư Trang),( 1936 ) Túy Hoa Vương Nữ( phóng tác theo truyện Marie Tudor của Victor Hugo),và hai vở kịch Tố Hoa Nương, Đêm Không Ngày. Vở Đêm Không Ngày sau viết thành tuồng cải lương Đêm Dài Vô Tận.
Các nghệ sĩ Năm Châu, Phùng Há, Tư Út, Ngọc Trâm, Tư Sạng, Ba Du, Tám Mẹo gia nhập gánh hát Trần Đắc của ông Bầu kiêm đại điền chủ Trần Đắc Nghĩa ở Cần Thơ.

Trên sân khấu Trần Đắc, trong khi soạn giả Huỳnh Thủ Trung tức Tư Chơi tiếp tục sáng tác những vở tuồng tình cảm xã hội như Khúc Oan Vô Lượng, Lở Tay Trót Đã nhúng chàm, Tôi Xin Chừa, Hai Mặt còn Trơ, Ai Là Bạn Chung Tình, Em Muốn Tự Do, thì soạn giả Nguyễn Thành Châu tức nghệ sĩ Năm Châu mở một hướng sáng tác mới. Anh tung ra một loạt tuồng phóng tác theo các tiểu thuyết nổi tiếng hay các vở kịch kinh điển của văn học Pháp như « Giá Trị và danh dự »( phóng tác Le Cid của Pierre Corneille), « Bằng Hữu Binh Nhung »(Les trois mousquetaires của Alexandre Dumas fils), Áo Người Quân Tử ( L’homme en habit), Tuý Hoa Vương Nữ( Marie Tudor của Victor Hugo), Miếng Thịt Người( Le marchand de Venise), Gió Ngược Chiều( Ruy Blas), Tơ Vương Đến Thác( La dame aux camélias)…

Anh Năm Châu nói về phương hướng sáng tác mới của anh đại ý như sau :

« Khán giả bây giờ không thích những tuồng có quá nhiều chữ Nho. Người ta theo Tây học, biết chữ quốc ngữ nên tuồng nào có đối thoại dễ hiểu là người ta thích. Tôi phóng tác các tuồng theo tiểu thuyết Anh, Pháp cũng là vì muốn phổ biến cho khán giả của mình một trào lưu tư tưởng tiến bộ của Tây Phương, nhân đó có thể áp dụng những tiến bộ nghệ thuật và kỹ thuật để làm giàu cho nghệ thuật sân khấu nước nhà. Thử nghĩ xem, khi nói lối với những câu văn biền ngẩu, có chữ Nho hay không thì lối văn biền ngẩu cũng đòi hỏi người diễn viên diễn những động tác gò bó, trịnh trọng như câu văn. Còn viết đối thoại theo thể văn xuôi, khi diễn có thể nói như trong những câu chuyện thường ngày. Tôi chủ trương một sân khấu « Thật và Đẹp », bắt đầu bằng những câu chuyện có thể xảy ra trong cuộc sống bình thường, cuộc đối thoại và động tác của diễn viên cũng thật như mình thấy trong cuộc đời.»

Trong những thập niên 30, 40, lúc mà cải lương tuồng Tàu đang rất được khán giả bình dân ưa thích, chủ trương một sân khấu « Thật và Đẹp » như nghệ sĩ Nguyễn Thành Châu đã làm là một ý hướng tiến bộ nhưng cũng lắm khó khăn vì không phải trong một sớm một chiều mà thay đổi được sở thích hưởng thụ của khán giả bình dân.

Ngay trong đoàn hát Việt Kịch Năm Châu, sau hơn mười năm thực hiện một sân khấu Thật và Đẹp, các nghệ sĩ trong đoàn Việt Kịch Năm Châu cũng gặp nhiều khó khăn khi theo chân soạn giả Năm Châu trên con đường thực hiện một sân khấu thật và đẹp. Trước hết, người nghệ sĩ cải lương khi học ca, đã có thói quen « nói theo hơi đờn », có dạo nhạc mùi thì nói lối « ai » để ca vọng cổ hay nói giọng buồn. Dạo đờn hơi « Xuân » thì nói lối hơi xuân, vui… Và khán giả coi hát cải lương thì thích nghe ca vọng cổ, thích nghe ca nhiều bài cổ nhạc, họ nói coi hát cải lương mà nghe nói chuyện như trong thoại kịch thì thà đi xem kịch nói còn hơn.

Đoàn Việt Kịch Năm Châu vì vậy mà mất dần khán giả, trong khi đó thì nghệ sĩ Năm Châu vẫn kiên trì với đường lối của mình. Tuồng của ông viết ít vọng cổ. Khi vô vọng cổ cũng không có ca gác bản nhỏ như những gánh hát khác. Khán giả của anh Năm Châu là một loại khán giả chọn lọc, khán giả trí thức hay là những khán giả rất sành Tây học, biết phân tích câu văn hay theo kiểu Tây học…

Không hiểu đó có phải là những lời bào chửa hay tự an ủi mình của những anh em nghệ sĩ của đoàn Việt Kịch Năm Châu khi họ thấy các gánh hát khác như Thanh Minh, Dạ Lý Hương, Kim Chưởng, Hoa Sen hát quá là đông khách, mặc dù sân khấu và tuồng tích của họ không theo như chủ trương của anh Năm Châu.

Anh Năm Châu được rất nhiều nghệ sĩ tôn là sư phụ, anh không phải chỉ dạy có bài bản đàng hoàng ( trừ ra sau này khi anh dạy ở trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ Saigon thì anh bắt buộc phải có giáo án theo như chương trình quy định của nhà trường). Mỗi khi tập tuồng mới, anh trực tiếp chỉ cho nghệ sĩ phải diễn như thế nào, nói lời đối thoại lớp hát đó ra sao và những động tác quăng bắt với nhau khi diễn cặp đôi. Anh Năm Châu cũng tỉ mỉ, quá là tỉ mỉ trong việc dàn cảnh hay trong việc nêu ra các quy định cho dàn cổ nhạc phải đờn đệm như thế nào trong từng lớp tuồng.

Do cách dạy như vậy, diễn viên giỏi từng vai diễn chứ không phải toàn bộ nghệ thuật hát. Người diễn viên nổi danh nhờ vào một phần lớn năng khiếu của họ. Tôi nói đây là những diễn viên trong đoàn Việt Kịch Năm Châu trong những năm 1952, 1953, 1954.

Cũng đồng thời là những bậc tôn sư trong nghề hát, nghệ sĩ Minh Tơ với lò đào tạo Đồng Ấu Minh Tơ, các nghệ sĩ xuất thân từ lò Đồng Ấu Minh Tơ đều trở thành những diễn viên tài danh về tuồng Tàu và tuồng Hồ Quảng. Con số đệ tử thành danh của nghệ sĩ Minh Tơ có thể lên đến con số hơn ba chục người. Số đệ tử của nghệ sĩ Năm Châu học có bài bản trong trường Quốc Gia Âm NHạc và Kịch Nghệ có thể trong vòng hơn mười người. Có lẽ thầy Năm Châu chỉ trực tiếp dạy có ba khóa học.

Nguồn Thư viện sách hay

Các bài viết cùng chuyên mục