Quê tôi và những gánh hát xưa

Đêm 15 tháng 3 năm 1918, “Kim Vân Kiều” – vở cải lương đầu tiên của nước ta được công diễn tại rạp Thầy Năm Tú, cũng là rạp cải lương đầu tiên của Việt Nam, hiện nay là rạp Tiền Giang tọa lạc tại trung tâm thành phố Mỹ Tho. Các gánh hát thời đó có Huỳnh Kỳ, Phước Cương, Đồng nữ ban…
Hồi đó, người ta thường gọi “Gánh hát” chứ ít ai gọi “Đoàn hát”. Cách gọi đó có cái lý do của nó, bởi mỗi lần đi lưu diễn, ngoài cỗ xe bò chở phông màn và gia đình ông Bầu, còn các nhân viên, đào kép đều phải tự gồng gánh hành lý của mình lục đục theo sau.

1

Một gánh hát xưa 

Gánh hát xưa có hai dạng. Dạng thứ nhất là hát bội. Với hát bội, dù gánh cũng có “tên” đàng hoàng nhưng không ai gọi cả, mà họ chỉ gọi tên ông Bầu của gánh đó mà thôi: Gánh bầu Bời, gánh bầu Trình… Dạng thứ hai là cải lương, với cải lương, không biết sao người ta lại gọi “tên” gánh hát đó mà không gọi tên ông Bầu: Gánh Kiếp Bướm, gánh Điền Viên… Có thể kể thêm một dạng nữa là “hát bội pha cải lương”, nhưng dạng nầy khán giả là các cụ có chính kiến rõ ràng. Các cụ bảo rằng: “Thà hát bội ra hát bội, cải lương ra cải lương, chứ vừa hát bội vừa cải lương nghe nó tréo ngoe!”.

Dù với dạng nào, tùy theo gánh hát nhỏ, lớn mà chọn nhà lồng chợ hay đình làng để trình diễn. Khi vừa tới điểm, một bộ phận lo việc thiết lập sân khấu, phông màn và lấy vải thô bao quanh nhà lồng (hay đình làng) để phân cách không gian “rạp hát” và bên ngoài để tiện việc kiểm soát, bán vé.

Bộ phận thứ hai không kém quan trọng, gọi là bộ phân “rao bảng”. “Rao bảng” nôm na có nghĩa là báo cho người trong làng biết hôm nay có gánh hát đến và đêm nay diễn tuồng gì. Bộ phận nầy mướn một cỗ xe ngựa. Hai bên hông và sau xe có vẽ hình ấn tượng nhất của nội dung tuồng hát diễn đêm đó. Trên xe để một trống chầu, trên đó có một hay hai người đánh liên tục từng ba dùi một (Thùng. Thùng. Thùng) suốt từ đầu làng đến cuối làng. Vì tốc độ ngựa chạy chậm nên sau xe là lũ con nít hò reo chạy theo mừng gánh hát… dzìa. Với gánh hát nhỏ như bầu Bời, bầu Trình thì chỉ cần để trống trước cửa “rạp”. Lũ trẻ tranh nhau mà đánh (cũng từng ba dùi một) và khoái chí lắm.

Mỗi lần gánh hát về làng thì y như ngày hội. Coi hát cũng nhiều mà đi chơi cũng không ít. Đó cũng là dịp nam nữ được hẹn hò nhau “hợp pháp”. Đội quân bán hàng theo thời vụ hoạt động cũng xôm trò, dù chỉ là mía chặt khúc, đậu phộng nấu… ; mà nước đá si rô, nước đá nhận là món hàng đặc biệt nhất, vì ngày thường không hề có, ngay cả lúc tiệc tùng.

Với những gánh cải lương thì có bán vé hẳn hoi, nhưng với hát bội thì không, mà là “bà bầu” và vài người thân tín đứng ở cửa thu tiền. Giá cũng không nhất định. Chỉ vì không bán vé mà thường xuyên xảy ra việc kèo cưa “trả giá” khá buồn cười: “Một đứa ba đồng, hai đứa “ăn” năm đồng thôi, được không?”. Lại có nhiều “trự” lợi dụng lúc chen lấn mà lẻn vào không trả tiền, đôi khi cũng được trót lọt, nhưng phần đông bị… nắm lổ tai, nắm tóc kéo ra. Tương tợ, cũng có “trự” giở vải lén chui vào, hậu quả cũng giống trường hợp trên.

Đêm cuối cùng thì đại hạ giá, vậy mà cũng ít người đi coi, vì không ai có tiền mà coi hoài, vả lại việc đồng áng họ cần phải được nghỉ ngơi dưỡng sức. Khi đó trong “rạp” toàn là khán giả “nhí” mà cũng chẳng được bao nhiêu. Chúng vào coi chủ yếu là coi đào kép, trang phục, đánh thương đánh kiếm, chứ hát bội thường dựa theo điển tích, điển cố làm sao chúng hiểu. Những câu thông dụng thì chúng dễ dàng thuộc và hát theo. Tỷ như: “Tróc mã đề thương, ứ ư ứ ư…” hay những câu tên quân trình báo: “Cấp báo! Cấp báo!”. “Điều chi?”. “Dạ, chí nguy! Giặc Hung Nô vượt khỏi biên thùy. Ta, dũng tướng thảy đều tử trận…”. “Lui!”. “Thôi rồi!…  (ò e ó e)”…

1

Nghệ sĩ Phùng Há trong vở Tô Ánh Nguyệt, năm 1958 – Ảnh tư liệu

Không có gánh nào có ghế cho khán giả ngồi, muốn ngồi ghế thì phải mang theo. Ánh sáng thì nhờ vào cái đèn măng – sông treo một bên sân khấu. Với gánh cải lương thì “sang” hơn, họ có máy đèn riêng, đến lúc hai đối thủ đánh phép: “Hô biến!”, đèn vụt tắt, lập tức bên sau phông màn trắng, khán giả thấy các bảo bối đấu nhau quyết liệt. Đây là màn ăn khách nhứt. Ngoài ra, nhờ có máy đèn mà có cảnh “phực đèn màu” sau khi đào kép xuống “hò” (câu 1, câu 5) làm giọng ca thêm muồi, thêm lâm ly tình tứ hơn, đã khiến nhiều tiếng vỗ tay, nhiều tiếng tắc lưỡi ngợi khen.

Về dàn nhạc, tùy theo cải lương hay hát bội mà có đờn nguyệt, đờn gáo, đờn cò, ghi ta và trống. Mọi thứ cũ mèm, được điều khiển bởi quý “thầy đờn”… “hình mai vóc liễu”, ốm tỏng ốm teo.

Về tuồng tích thì thường diễn trích đoạn của các truyện Tàu như: “Lưu Kim Đính giải giá Thọ Châu”, “Tiết Đinh San cầu Phàn Lê Huê”, “Tôn Tẩn hạ san”, hoặc những chuyện cổ tích như: “Thạch Sanh Lý Thông”, “Phạm Công – Cúc Hoa”…

Về “kịch bản” (với hát bội) dường như có “khuôn mẫu” sẵn cho đào kép, nghĩa là có những bài bản riêng cho mọi tình huống. Như khi hai tướng xông trận thì hát thế nào, khi vua lâm triều thì phải hát ra sao…; thêm vào đó chút “hát cương” tùy theo tay nghề của đào kép. Ông Bầu vừa đạo diễn, vừa nhắc tuồng.
Có nhiều khán giả “nhí” khoái vào hậu trường để coi đào kép sắm tuồng hơn coi trên sân khấu. Chúng thường được dễ dãi nếu không phá phách hay ăn ổi chín, vì “sợ Tổ thích mùi thơm của ổi mà bỏ đi” – các anh chị đào kép bảo vậy!

Nếu nghệ sĩ ngày nay là một trong những nghề có thu nhập cao nhứt, thì nghệ nhân hát bội (và cả cải lương gánh nhỏ) thời đó có thu nhập rất ít oi, nói khác đi, nếu chỉ dựa vào thù lao diễn xuất thì không thế nào đủ sống. Đó là với đào chánh, kép chánh; còn “kép cơm”, tức những người đóng vai lính, quân hầu thì càng thê thảm, bởi lâu lâu mới được chút ít tiền bồi dưỡng để… hớt tóc mà thôi.

Gánh hát thường về làng vào tháng mười một âm lịch cho đến trước khi sắp đổ mưa, vì thời gian nầy dân làng có thu nhập (chủ yếu là bán lúa) và rảnh rang nên đến coi đông, nhưng nhiều lắm gánh hát chỉ lưu lại một tuần thì rạp hát vắng hoe. Gánh không hát nữa, nhưng cũng chẳng dọn đi, ông Bầu cho ở lại để đào kép kiếm việc làm. Ai mướn gì làm nấy như gặt lúa, vác lúa; với những người yếu sức thì đi mót, đi câu, bắt cua, lưới cá. Đào kép đều xuất thân từ nông dân nên những việc làm đó họ chẳng thua gì dân bản xứ.

Với hát bội, không có thì coi đỡ ghiền, chứ thực tình khán giả cũng không “mặn” lắm. Cho nên từ khi cải lương về làng, hát bội không còn chỗ đứng nữa. Gánh bầu Bời và bầu Trình năm xưa thỉnh thoảng lại đến, chỉ diễn một vài đêm là  gồng gánh buồn bã lên đường. Thấy tình cảnh nầy, không biết ai trong làng tôi đã ứng khẩu và truyền miệng câu “thơ” ác nhơn: “Bầu Trình hát dở đừng lo/ Sang năm hát khá được đi xe bò!/ Bầu Bời hát dở đừng rầu/ Sang năm hát khá được ngồi xe trâu!”.

Với gánh cải lương, thu nhập có khá hơn nhiều. Buổi trưa rỗi việc, mấy chú bác ở xóm Ngã Tư mời đào kép chánh và một hay vài ông “thầy đờn” đến nhà “làm” mấy bài vọng cổ hay mấy lớp xàng xê quanh bàn rượu, bữa cơm đơn sơ nhưng thắm tình… nghệ sĩ! Tất nhiên trước khi ra về, anh chị đào kép cũng được chút thù lao khá hậu hỉ.

1

Ban nhạc tài tử Tư Triều năm 1906 – Ảnh: tư liệu

Tuồng tích cũng không khác gì hát bội, nhưng nhờ trang phục bắt mắt và văn chương bóng bẩy khiến người coi thích thú; cũng như diễn xuất “thực” hơn, lời ca muồi hơn, nên có nhiều đoạn làm người xem xúc động, rơi nước mắt và không ngần ngại kẹp tiền vào quạt giấy phóng lên sân khấu (đây là hình thức thưởng tiền ở miền quê).

Và đào kép cũng không ngừng khai thác khía cạnh nầy: Mở đầu tuồng Phạm Công – Cúc Hoa  là màn Phạm Công cõng mẹ mù lòa đi ăn xin. Hai mẹ con quần áo rách bươm. Phạm Công vẻ mặt thểu não, tay cầm thau nhôm móp méo, cõng mẹ chầm chậm quanh sân khấu, ca điệu Hoài Tình: “Bà con cô bác giùm thương/ Bố thí cho tôi một chén cơm thừa/… (nói dặm: Mẹ! Mẹ! Mẹ rán nhịn đói chút xíu nữa nghe mẹ! Chừng nào bà con cho cơm, con đút mẹ ăn nghe mẹ!…). Thế là nước mắt khán giả tuôn ra, tiếng hỉ mũi rồn rột, giọng nghẹn ngào: “Tui cho tiền nè!”. Và quạt giấy kẹp tiền “bay” lên tới tấp, người không có quạt thì tự đem lên.

Một ông “thầy đờn” thấy vậy nói với Phạm Công: “Được khá đó nghen mậy! Tiếp lớp 2 nghe!” (tức bảo ca lại lần nữa). Phạm Công ca tiếp tới lớp 4, khi mà khán giả lơi cho tiền mới thôi. Hồi còn trẻ con, chúng tôi chuyên “coi hát” trong hậu trường nên nghe thấy rõ cảnh nầy.

1

Một ban nhạc tài tử ở Mỹ Tho đầu thế kỷ 20 – Ảnh tư liệu

Một tuồng có hai màn, hết màn một là nghỉ giải lao. Trước khi qua màn hai thì một người đứng sau màn (thường là ông bầu hoặc anh kép chánh) nói lời tri ân khán giả và giới thiệu vở tuồng ngày mai với những lời lưu loát và không kém văn hoa. Gần cuối màn hai thì gánh hát cho “thả dàn”, tức mở cửa ai muốn coi cứ vào coi, việc làm nầy cũng không ngoài mục đích quảng cáo lời ca, điệu hát, trang phục, diễn viên của mình.

Đến năm 1960, quê tôi nằm trong vùng binh lửa. “Gánh nhà” bầu Trình, bầu Bời nghe nói đã “rã gánh”, đào kép “về quê cắm câu”, chỉ tụ tập lại hát trong những ngày lễ cúng đình thần. Những gánh cải lương cũng biệt tích, trong lúc ở thập niên nầy (60-70) là thời vàng son của cải lương: Ở Sài Gòn có nhiều đoàn hát lớn như Kim Chung, Thanh Minh, Hương Mùa Thu… và xuất hiện nhiều soạn giả lớn với nhiều tuồng hát để đời.

Nguồn vannghetiengiang