Phát biểu của Tổng Bí thư tại Hội nghị TW 9, khóa XI

         Sáng 8/5, Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã khai mạc tại Hà Nội. Trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khai mạc Hội nghị.

Thưa các đồng chí Trung ương,

Thưa các đồng chí tham dự Hội nghị,

Theo Chương trình vừa được Trung ương thông qua, Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa XI sẽ bàn về các nội dung: Tổng kết việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; đề cương các văn kiện trình Đại hội XII của Đảng; chuẩn bị cho việc chỉ đạo tiến hành đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội XII của Đảng; Quy chế bầu cử trong Đảng; việc lấy phiếu tín nhiệm theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về xây dựng Đảng; tổng kết việc thực hiện thí điểm không tổ chức hội đồng nhân dân huyện, quận, phường; và một số vấn đề quan trọng khác.

Thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, tôi xin nhiệt liệt chào mừng các đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, các đại biểu tham dự Hội nghị và xin gửi tới các đồng chí lời chúc tốt đẹp nhất.

Sau đây, tôi xin phát biểu một số ý kiến, có tính chất gợi mở, nêu vấn đề để các đồng chí quan tâm trong quá trình nghiên cứu, thảo luận, quyết định.

1- Về tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về văn hóa

Như chúng ta đều biết, văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu và động lực phát triển đất nước; văn hóa có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành nhân cách con người và bản sắc, cốt cách một dân tộc. Ngày nay, văn hóa còn được coi như một yếu tố có vai trò quyết định sức mạnh và vị thế của mỗi quốc gia, dân tộc. Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc luôn là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của cách mạng Việt Nam. Đường lối văn hóa của Đảng không ngừng được bổ sung và phát triển qua các thời kỳ cách mạng.

Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc được ban hành tháng 7 năm 1998, khi đất nước đang trong quá trình chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội có nhiều biến đổi sâu sắc. Với năm quan điểm chỉ đạo, mười nhiệm vụ, bốn nhóm giải pháp chủ yếu, Nghị quyết đã bao quát ở tầm chiến lược những vấn đề rất cơ bản của sự nghiệp phát triển văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới, đánh dấu bước phát triển quan trọng trong tư duy lý luận về văn hóa của Đảng ta, có ý nghĩa như một cương lĩnh văn hóa của thời kỳ đổi mới. Đến nay, sau hơn 15 năm thực hiện, chúng ta rất cần tổng kết lại để có những chủ trương, quyết sách tiếp tục đổi mới, phát triển mạnh mẽ văn hóa, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế.

Văn hóa là lĩnh vực rộng lớn, có những nội hàm và định nghĩa khác nhau tùy theo cách tiếp cận. Do vậy, cần bám sát Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII, các Nghị quyết Đại hội và Nghị quyết Trung ương đã được ban hành, đồng thời căn cứ vào thực tiễn cuộc sống để phân tích, đánh giá và đề xuất, kiến nghị; giới hạn phạm vi các vấn đề văn hóa trong mối quan hệ với chính trị, kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; trọng tâm là xây dựng con người, xây dựng môi trường sống và làm việc (gia đình, cộng đồng, xã hội) có văn hóa, có đạo đức, văn minh, lành mạnh.

Tại Hội nghị Trung ương lần này, chúng ta cần tập trung thảo luận, khẳng định những kết quả, thành tựu đã đạt được, đồng thời chỉ ra những hạn chế, khuyết điểm còn tồn tại để rút kinh nghiệm. Đặc biệt, cần đánh giá đúng mức tính nghiêm trọng của tình trạng lạc hậu, ngoại lai về văn hóa, những biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống, phai nhạt lý tưởng cách mạng, những tiêu cực, tệ nạn xã hội, thói giả dối, bệnh thành tích,… đang có xu hướng lan rộng. Tập trung trả lời câu hỏi phải chăng trong hơn 15 năm qua, kinh tế nước ta có tăng trưởng, đời sống nhân dân được cải thiện, nhưng văn hóa, đạo đức xã hội lại có nhiều biểu hiện xuống cấp, thậm chí có mặt nghiêm trọng? Nếu đúng như vậy thì nguyên nhân vì sao? Vì chủ trương, chính sách, biện pháp chưa phù hợp hay vì nhận thức, quán triệt, tổ chức thực hiện Nghị quyết chưa tốt, chưa nghiêm? Vì tác động mặt trái của kinh tế thị trường, mở cửa hội nhập quốc tế và sự phát triển bùng nổ của công nghệ thông tin, truyền thông?…

Trên cơ sở đó và sự phân tích, dự báo về bối cảnh, tình hình trong nước, quốc tế từ nay đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, đề nghị Trung ương xem xét, quyết định về sự cần thiết của việc kế thừa, bổ sung, phát triển Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII để ban hành Nghị quyết mới về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam, với những nội dung đổi mới cụ thể, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong thời kỳ mới.

2- Về chuẩn bị đề cương các văn kiện trình Đại hội XII của Đảng

Theo kế hoạch, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng sẽ diễn ra vào đầu năm 2016, sau đúng một nhiệm kỳ 5 năm toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nỗ lực phấn đấu thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2011-2020, và đất nước ta đã trải qua 30 năm đổi mới. Đây sẽ là một sự kiện chính trị trọng đại của Đảng ta, đất nước ta.

Thời gian qua, thực hiện quyết định của Hội nghị Trung ương 8 khóa XI, Tiểu ban Văn kiện và Tiểu ban Kinh tế-xã hội đã khẩn trương chuẩn bị các dự thảo Đề cương Báo cáo chính trị và Báo cáo kinh tế-xã hội, xin ý kiến Bộ Chính trị tiếp tục hoàn thiện để trình Trung ương xem xét, cho ý kiến tại Hội nghị này.

Tuy mới là dự thảo đề cương sơ bộ nhưng đây là bước khởi đầu rất quan trọng, định hướng cho việc chuẩn bị có chất lượng các văn kiện trình Đại hội XII của Đảng. Mong Trung ương dành thời gian nghiên cứu kỹ các tài liệu, thảo luận, cho ý kiến đối với các đề xuất cụ thể nêu trong các Tờ trình và dự thảo Đề cương Báo cáo, trước hết là về các vấn đề: Chủ đề và tư tưởng chỉ đạo của Đại hội; phương châm tiến hành Đại hội; tiêu đề của Báo cáo chính trị, Báo cáo kinh tế-xã hội; kết cấu và những nội dung lớn của đề cương các báo cáo, đặc biệt là 10 vấn đề cần được tập trung nghiên cứu làm rõ trong quá trình xây dựng các văn kiện đã được nêu trong dự thảo Đề cương Báo cáo chính trị và Tờ trình của Tiểu ban Văn kiện. Chẳng hạn như, đánh giá như thế nào về việc thực hiện các chủ trương lớn, quan trọng được xác định trong Văn kiện Đại hội XI và các nghị quyết của Trung ương khóa XI (đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, thực hiện ba khâu đột phá chiến lược, việc điều chỉnh một số mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội sau Đại hội XI,…)? Khả năng và mức độ thực hiện mục tiêu tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại? Việc nhận thức và giải quyết các vấn đề về chính sách xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong từng chính sách, từng bước phát triển? Dự báo những thuận lợi và khó khăn, thời cơ và thách thức, các nhân tố tác động trực tiếp đến sự phát triển của nước ta trong thời gian tới? Những nguy cơ mà Đảng ta đã từng cảnh báo đang diễn biến thế nào? Tình hình tư tưởng, tổ chức, hoạt động của Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị? Các nguồn lực và các giải pháp để phát huy tốt nhất, thực hiện có hiệu quả nhất các chủ trương, định hướng phát triển đất nước trong những năm sắp tới? Vấn đề độc lập tự chủ và mở rộng, tăng cường hội nhập quốc tế?…

Trong quá trình thảo luận, cũng cần làm rõ tính chất, mục tiêu, yêu cầu và phạm vi của mỗi báo cáo và mối quan hệ giữa các báo cáo. Báo cáo chính trị là văn kiện trung tâm của Đại hội, có nhiệm vụ tiếp tục cụ thể hóa Cương lĩnh của Đảng để lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong nhiệm kỳ mới. Nội dung của Báo cáo chính trị phải mang tầm khái quát cao những vấn đề thuộc về quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Báo cáo kinh tế-xã hội là báo cáo chuyên sâu về việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, là căn cứ cụ thể minh chứng cho sự đúng đắn của những nhận định, đánh giá tình hình và quán triệt, cụ thể hóa những định hướng lớn về chủ trương, chính sách, giải pháp được khái quát trong Báo cáo chính trị. Báo cáo kinh tế-xã hội cần có sự phù hợp, nhất quán với quan điểm, định hướng lớn nêu trong Báo cáo chính trị, nhưng không trùng lắp với Báo cáo chính trị.

Đề cương các văn kiện trình Hội nghị lần này mới nêu định hướng, có tính chất mở với nhiều phương án khác nhau để Trung ương cho ý kiến chỉ đạo, lựa chọn một bước, sau đó tiếp tục nghiên cứu, chuẩn bị theo quy trình, qua các bước thảo luận tại đại hội đảng bộ các cấp, cuối cùng Trung ương sẽ quyết định để trình ra Đại hội toàn quốc. Riêng về kết cấu của các báo cáo thì cần được quyết định sớm ngay tại Hội nghị này, để kịp chuẩn bị dự thảo đề cương và biên soạn nội dung chi tiết. Về cách viết cũng nên có sự đổi mới sao cho sinh động, ngắn gọn, giản dị, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện.

3- Về định hướng chuẩn bị Đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng

Để thống nhất lãnh đạo, chỉ đạo việc chuẩn bị và tiến hành đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội toàn quốc lần thứ XII của Đảng, Bộ Chính trị cần ban hành Chỉ thị về vấn đề này. Đây là công việc hết sức quan trọng, bảo đảm thành công của đại hội đảng bộ các cấp và góp phần cho thành công của Đại hội toàn quốc lần thứ XII của Đảng, cần được các đồng chí Trung ương cho ý kiến.

Thời gian qua, Bộ Chính trị đã chỉ đạo tổng kết việc thực hiện Chỉ thị 37 của Bộ Chính trị khóa X về vấn đề này; khẳng định những kết quả, bài học kinh nghiệm cần được kế thừa, phát huy; đồng thời chỉ rõ những hạn chế, khiếm khuyết cần rút kinh nghiệm và kịp thời điều chỉnh. Trên cơ sở đó, xây dựng dự thảo Chỉ thị mới trình Ban Chấp hành Trung ương cho ý kiến để hoàn chỉnh trước khi ban hành.

Đề nghị các đồng chí quan tâm thảo luận thật cụ thể về Tờ trình và dự thảo Chỉ thị, tập trung làm rõ mục đích, yêu cầu, nội dung đại hội đảng các cấp và công tác chuẩn bị nhân sự và bầu cử cấp ủy, đặc biệt là về cơ cấu, số lượng cấp ủy tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; tỉ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ của cấp ủy tỉnh, thành phố; độ tuổi tham gia cấp ủy tỉnh, thành phố (về tuổi tái cử và lần đầu tham gia cấp ủy) và về bầu cử cấp ủy…

4- Về Quy chế bầu cử trong Đảng

Tại Hội nghị Trung ương 8 khóa XI (tháng 10-2013), Bộ Chính trị đã trình và Trung ương đã thảo luận, đóng góp nhiều ý kiến quan trọng vào dự thảo Quy chế bầu cử trong Đảng. Xuất phát từ tầm quan trọng của Quy chế đối với tổ chức và hoạt động của Đảng và việc thi hành Điều lệ Đảng, góp phần tạo sức mạnh và sự đoàn kết, thống nhất, kỷ cương trong Đảng, Ban Chấp hành Trung ương đã giao Bộ Chính trị chỉ đạo việc tiếp thu ý kiến Trung ương, tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện dự thảo Quy chế để trình Trung ương xem xét, thông qua tại Kỳ họp này.

Thực hiện quyết định của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị đã chỉ đạo Ban Tổ chức Trung ương cùng các cơ quan có liên quan nghiêm túc nghiên cứu, tiếp thu ý kiến của Trung ương hoàn thiện thêm dự thảo Quy chế và gửi xin ý kiến tham gia của các ban thường vụ tỉnh ủy, thành ủy, các ban đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng uỷ trực thuộc Trung ương. Các cấp uỷ, cơ quan, đơn vị đã nghiên cứu, thảo luận, góp ý vào toàn văn dự thảo Quy chế, đồng thời thể hiện chính kiến của tập thể ban thường vụ, ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng ủy trực thuộc Trung ương vào một số nội dung còn có ý kiến khác nhau. Bộ Chính trị đã họp, thảo luận kỹ và thống nhất cao về những nội dung nêu trong Tờ trình và dự thảo Quy chế báo cáo Trung ương.

Tại Hội nghị lần này, đề nghị Trung ương cho ý kiến, sửa trực tiếp vào các chương, điều của Dự thảo Quy chế, đồng thời tập trung thảo luận kỹ, tạo sự thống nhất cao về một số vấn đề còn có ý kiến khác nhau như đã nêu trong Tờ trình của Bộ Chính trị. Yêu cầu quan trọng, cơ bản nhất của Quy chế bầu cử trong Đảng là phải bảo đảm mọi đảng viên thực hiện một cách nghiêm túc, đúng đắn Điều lệ Đảng, giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng, làm cho Đảng ta thật sự là một tổ chức cách mạng chặt chẽ, kỷ cương, đoàn kết, thống nhất cao.

5- Về thực hiện Quy định việc lấy phiếu tín nhiệm

Thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về xây dựng Đảng, Bộ Chính trị đã ban hành Quy định 165 về lấy phiếu tín nhiệm đối với thành viên lãnh đạo cấp ủy và cán bộ lãnh đạo trong cơ quan đảng, nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội. Qua một thời gian thực hiện, có cơ sở để khẳng định chủ trương lấy phiếu tín nhiệm là hoàn toàn đúng đắn, cần thiết, là kênh thông tin quan trọng để cấp ủy tham khảo trong đánh giá cán bộ. Công tác chỉ đạo triển khai thực hiện việc lấy phiếu tín nhiệm trong thời gian qua nhìn chung được tiến hành chặt chẽ, theo quy trình, đúng với tinh thần Nghị quyết Trung ương 4, được đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân quan tâm và đồng tình, ủng hộ. Kết quả lấy phiếu tín nhiệm cơ bản phản ánh được mức độ tín nhiệm của từng cá nhân trong tương quan chung giữa các chức danh tại thời điểm lấy phiếu, có tác dụng thiết thực trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị.

Tuy nhiên, đây là công việc hệ trọng, nhạy cảm, chưa có tiền lệ, chúng ta cần hết sức cẩn trọng, vừa làm vừa rút kinh nghiệm. Tháng 12-2013, Bộ Chính trị đã nghe Ban Chỉ đạo báo cáo, đánh giá, rút kinh nghiệm việc thực hiện lấy phiếu tín nhiệm. Tại Hội nghị lần này, Bộ Chính trị xin báo cáo Trung ương kết quả thực hiện và kiến nghị chủ trương tiếp tục thực hiện công việc này trong thời gian tới. Đề nghị Trung ương tập trung thảo luận, khẳng định những mặt làm được, những vấn đề cần rút kinh nghiệm, cho ý kiến về những vấn đề cần cân nhắc bổ sung, sửa đổi như về thời điểm lấy phiếu tín nhiệm; đối tượng lấy phiếu; nội dung, hình thức phiếu; quy trình lấy phiếu; việc công khai kết quả phiếu… Căn cứ vào ý kiến của Trung ương, Bộ Chính trị sẽ chỉ đạo việc sửa đổi, bổ sung Quy định 165 để tiếp tục tiến hành tổ chức lấy phiếu tín nhiệm các chức danh, đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đã đề ra.

6- Về tổng kết việc thí điểm không tổ chức hội đồng nhân dân huyện, quận, phường

Thực hiện Hiến pháp 2013, tới đây Quốc hội sẽ sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới nhiều đạo luật, trong đó có Luật Tổ chức chính quyền địa phương, nhằm tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của chính quyền địa phương phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt. Để lãnh đạo thể chế hóa thành công những nội dung đổi mới quan trọng đã được hiến định này, Hội nghị của chúng ta có nhiệm vụ xem xét, đánh giá kết quả tổng kết việc thực hiện thí điểm không tổ chức hội đồng nhân dân huyện, quận, phường theo Nghị quyết Trung ương 5 khóa X và Nghị quyết 26 của Quốc hội khóa XII.

Đồng thời với việc xem xét, đánh giá kết quả 5 năm thực hiện Nghị quyết của Trung ương và Quốc hội, đề nghị các đồng chí thảo luận, kết luận về nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức hoạt động của chính quyền địa phương thuộc 10 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đang thực hiện thí điểm, và đặc biệt là cho ý kiến về việc lựa chọn phương án tổ chức chính quyền địa phương như nêu trong Tờ trình. Yêu cầu cao nhất đối với phương án lựa chọn là phải góp phần đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của chính quyền địa phương, phát huy quyền làm chủ của nhân dân và đúng với quy định của Hiến pháp mới. Quyết định của Trung ương về vấn đề này sẽ là cơ sở để các cơ quan chức năng xây dựng đề án trình Quốc hội xem xét có những bổ sung, sửa đổi cần thiết Luật Tổ chức chính quyền địa phương.

Thưa các đồng chí,

Nội dung chương trình Hội nghị Trung ương lần này có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị của Ban Chấp hành Trung ương khoá XI từ nay đến hết nhiệm kỳ, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI, chỉ đạo chuẩn bị Đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XII của Đảng. Vì vậy, đề nghị Trung ương và các đồng chí tham dự Hội nghị phát huy trí tuệ, tinh thần trách nhiệm, tập trung nghiên cứu, thảo luận kỹ lưỡng, cho ý kiến để hoàn thiện các báo cáo, đề án và xem xét, quyết định vào cuối kỳ họp.

Với tinh thần đó, tôi xin tuyên bố khai mạc Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI. Chúc Hội nghị thành công tốt đẹp.

Xin trân trọng cảm ơn./.

Nguồn Chính phủ