Những địa danh, di tích “ngựa” ở Tiền Giang

Ngày xưa, đường bộ ở vùng đất Nam kỳ chưa phát triển, việc đi lại, vận chuyển chủ yếu bằng ghe xuồng. Năm 1792, chúa Nguyễn đắp đường Thiên Lý từ Gia Định về Cái Thia, lập các trạm mục, cấp ngựa cho trạm phu để thực hiện các công việc hỏa tốc vào mùa khô, nhưng mùa mưa họ vẫn sử dụng ghe thuyền để chuyển công văn giấy tờ.

Đến khi người Pháp chiếm đất Nam kỳ, thực hiện chính sách khai thác thuộc địa, mở mang giao thông đường bộ cùng với các phương tiện cơ giới khác như tàu chạy bằng máy hơi nước, xe lửa… thì việc dùng ngựa dần dần phổ biến, nhưng chỉ trong giới thượng lưu và quan chức; còn người bình dân vẫn thích dùng xe trâu, xe bò.

Chợ Vòng Nhỏ.
Chợ Vòng Nhỏ.

1. Sau khi chiếm Định Tường, chính quyền thực dân Pháp bắt dân đắp hai con đường ở phía tây thành Định Tường sử dụng vào việc tuần tra, đề phòng nghĩa quân tập kích. Sau đó hai con đường được mở rộng trải đá, hai bên trồng dừa. Theo mô tả dân gian, chiều chúa nhật các “thầy chú” thường cỡi xe đạp dạo quanh con đường nầy, đặc biệt là những ngày lễ lớn quan Tham biện Chủ tỉnh thường tổ chức đua ngựa.

Đường đua thứ nhất dân gian đặt tên là đường Vòng nhỏ (người Pháp ghi là Petit tour d’Inspection – Vòng nhỏ của quan Tham biện). Đường thứ hai là đường Vòng lớn (Grande tour d’Inspection – Vòng lớn của quan Tham biện). Tấm ảnh của nhà chụp hình Nadal ở Sài Gòn chụp khoảng năm 1925 cho thấy hai bên đường Vòng nhỏ đã có hai hàng dừa cao, ước tính vài chục năm. Từ đó có thể giả định con đường nầy được đắp trễ nhất cũng vào khoảng năm 1900.

Lúc bấy giờ, đường Vòng lớn và Vòng nhỏ đều ở ngoài đồng trống. Về sau dân cư phát triển mới trở nên đông đúc. Đường Vòng nhỏ chạy từ đầu đường Địa hạt số 6 (Route local No 6), nay là đường Ấp Bắc, vô ngã tư Hòa Phong rồi ra tận bờ sông Tiền. Vùng nầy xưa kia thuộc làng Bình Tạo, nhưng trước năm 1945 thuộc ấp Hòa Phong, xã Điều Hòa.

Khi bắt đầu chỉnh trang đô thị, các làng thuộc TP. Mỹ Tho hiện nay đã bị xáo trộn rất lớn, đường Vòng nhỏ trở thành ranh giới 3 làng Điều Hòa, Bình Đức và Đạo Thạnh từ ngày 1-1-1933. Đường Vòng nhỏ hiện nay là đường Trần Hưng Đạo, trước năm 1975 mang tên là đường Pasteur. Cung đường còn sót lại ngôi chợ cùng tên: Chợ Vòng nhỏ, được lập từ lúc chính quyền Ngô Đình Diệm thực hiện chính sách dồn dân lập ấp. Hiện nay chợ Vòng nhỏ là một trong những ngôi chợ khá sầm uất của TP. Mỹ Tho.

Bến Tắm Ngựa  ngày xưa,  nay là cuối đường  Nguyễn Huỳnh Đức,  P.2, TP. Mỹ Tho.
Bến Tắm Ngựa ngày xưa, nay là cuối đường Nguyễn Huỳnh Đức, P.2, TP. Mỹ Tho.

Đường Vòng lớn cũng chạy từ đường Địa hạt số 6 ra tận tỉnh lộ 25, sát bờ sông Tiền. Đầu đường Vòng lớn có cầu Cống, có lẽ được xây từ lúc mới đắp con đường nầy, nay chỉ còn tên gọi. Địa điểm nầy thuộc làng Trung Lương, nay là xã Trung An.

Đường Vòng lớn dài trên 2 cây số, cuối đường có kinh Xáng cụt do thực dân Pháp đào từ năm 1935; đến năm 1965 chính quyền Sài Gòn tiếp tục đào để lấy đất xây dựng căn cứ pháo binh, khu gia binh và khu gom dân. Con kinh xuyên qua lộ nên phải bắc cầu sắt, gọi là cầu sắt Bình Tạo. Đường Vòng Lớn hiện nay là Quốc lộ 60 đi qua cầu Rạch Miễu sang Bến Tre.

Ở Gò Công cũng có một nơi dành để đua ngựa. Thực dân Pháp cho đào một cái ao lớn hơn 1 ha, bề sâu khoảng 3 mét, vừa để lấy đất làm nền cho các công sở dinh thự, vừa chứa nước cho người dân sử dụng. Mấy năm sau đó, họ đắp một con đường quanh bờ ao, chu vi gần 3 cây số.

Lộ này dùng làm đường đua ngựa, gần bên ao có xây khán đài rất cao. Mỗi khi có cuộc lễ hay Tết Nguyên đán thì mở cuộc đua ngựa chạy quanh đường này. Sau đó thêm các cuộc đua xe đạp để giúp vui, cho nên người dân gọi là ao Trường Đua. Hiện nay khu vực này trở thành công viên ở trung tâm TX. Gò Công.

Khi việc sử dụng xe ngựa phổ biến ở vùng Gò Công hơn các địa phương phía tây, Nhà thơ Hoàng Tố Nguyên trong tập thơ Gò Me đã ghi lại hình ảnh chiếc xe ngựa (có lẽ là xe thổ mộ) ở quê mình:

“Con đê cát đỏ cỏ viền
Leng keng nhạc ngựa, đường lên
chợ Gò”.

2. Khi xe ngựa phát triển thì có thêm dịch vụ đóng xe ngựa, xén lông, đóng móng… và một vài địa phương đắp đường đi ngựa, hay có những chỗ dành cho ngựa tắm, nay còn sót lại những địa danh như: Bờ Ngựa ở xã Nhị Quí (Cai Lậy), Bến Tắm Ngựa ở phường 2 (TP. Mỹ Tho).

Bến Tắm Ngựa ở phường 2  (TP. Mỹ Tho) nằm cuối đường Nguyễn Huỳnh Đức, nơi ngày xưa từng là bãi đậu ghe thuyền của giới thương hồ. Chưa biết bến tắm này hình thành bao giờ, nhưng có lẽ sớm nhất cũng vào khoảng thời gian sau khi Tây chiếm Định Tường, lập trại ngựa, kho chứa cỏ và sử dụng ngựa làm phương tiện đi lại, tuần tra.

Cuối thế kỷ XIX, ở đây có một bến đò sang Rạch Miễu (Bến Tre), sau đó dời lên đặt tại đầu đường De Castelneau (nay là đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa), trở thành bến bắc Mỹ Tho, nay đã đi vào quá khứ.

Đường Vòng Nhỏ ngày xưa.
Đường Vòng Nhỏ ngày xưa.

Hồi thực dân Pháp trở lại tái chiếm, rồi Nam bộ kháng chiến, bến Tắm Ngựa có lúc trở thành pháp trường. Bọn lính Tây ruồng bố, bắt được những người tình nghi là Việt Minh thì đem ra bến Tắm Ngựa xử bắn rồi đạp xác xuống sông. Ở khu phố này đã chứng kiến sự hy sinh oanh liệt của một chiến sĩ Việt Minh tên là Biếu, hy sinh vào năm 1946.

Sự kiện được Nhà thơ Lương Giang ghi lại trong bài thơ “Cái chết của anh Biếu”: Nó đem lên xe kéo/ Kéo ra bến Tắm Ngựa/ Treo trước ngực đính bài/ Đọc bản án rồi xử/ Bắn anh tôi ngã gục/ Nó xô xuống mé sông/ Chiều về trên Cửu Long/ Một buổi chiều vắng lặng…

Bến Tắm Ngựa dừng hoạt động khi Mỹ Tho… không còn xe ngựa. Sau năm 1954, có lúc nơi đây là sào huyệt của các tay anh chị. Du đảng bến Tắm Ngựa đã từng bao vây đánh đoàn hát Thanh Minh tại rạp Viễn Trường và chuốc lấy thất bại, vì trong đoàn hát có các diễn viên rất giỏi võ như: Văn Ngà, Ba Xây, Ba Nghĩa… trấn giữ trước cửa rạp.

3. Ngoài ra, còn có nhiều địa danh khác như: Miếu Bạch Mã: Tọa lạc ấp Bình Lợi, xã Tân Mỹ Chánh
(TP. Mỹ Tho). Miếu thờ Bạch Mã đã được người dân tôn tạo nhiều lần do bị hỏa hoạn và xuống cấp bởi thời gian. Tuy nhiên, trong căn miếu vẫn còn lưu giữ được tấm bia có khắc dòng chữ sắc phong từ khi lập miếu.

Theo lưu truyền dân gian, trên đường bôn tẩu trước sự truy đuổi của quân Tây Sơn, vua Gia Long cưỡi ngựa bạch chạy đến vùng Gò Cát (nay thuộc ấp Bình Lợi) thì ngựa bị sa xuống một cái ao, không lên được. Nhà vua cùng tùy tùng tìm mọi cách cứu ngựa nhưng vẫn không cứu được, đành bỏ ngựa lại và chạy xuống vàm Kỳ Hôn.

Trước khi đi, con ngựa chảy nước mắt như muốn từ biệt và gục chết… Thương con vật trung thành, sau này khi nghiệp lớn đã thành, vua Gia Long ra lệnh cho lập miếu và phong thần cho con vật đã trung thành với chủ.

Bà Trần Thị Năm (66 tuổi, ở ấp Bình Lợi), là chủ khu vườn có miếu thờ, cho biết: Sự tích miếu thờ này có viết thành một tập giấy, được lưu giữ tại miếu, nhưng sau này vì hỏa hoạn đã bị đốt cháy. Theo lời kể của thân phụ bà (đã mất), trước đây còn có một cái ao nơi ngựa bạch chết, luôn đầy ắp nước ngay cả mùa khô. Lệ cúng Thần Bạch Mã tại miếu này được tổ chức vào ngày 12 tháng 2 âm lịch, do bà con trong vùng đóng góp sản vật và tiền bạc tổ chức.

Mả ngựa: Trong quá trình sưu tầm tài liệu cho bài viết về ngôi đình thần thờ Phó lãnh binh Phan Văn Dõng, một trong những phó tướng của Trương Định đã bị Pháp xử chém vì không đầu hàng giặc, chúng tôi tìm thấy mộ phần của ông hiện đang chôn tại khu vực Gò Hùm, thuộc ấp Bình Ninh, xã Bình Phục Nhứt, huyện Chợ Gạo.

Ông Phan Văn Diễn (92 tuổi, ấp Bình Phú) là cháu sờ của ông Phan Văn Dõng kể lại: Trước đây, gần khu mộ có gò mả ngựa, nguyên là nơi chôn cặp ngựa quý mà Phó lãnh binh Phan Văn Dõng nuôi ở nhà dùng để cưỡi. Sau khi gia nhập nghĩa quân Trương Định và sau ngày ông bị Pháp xử chém, cặp ngựa này đã bỏ ăn, nhịn đói và chết theo. Thương đôi vật có tình, người nhà Phó lãnh binh đã mang đem chôn gần mộ phần của ông. Nghe lời kể lại, nơi mả ngựa rộng khoảng một mặt ghế bàn tròn, hoàn toàn không có ngọn cỏ nào mọc được.

Cũng theo lời ông Bảy Diễn, làng Bình Trị ngày xưa (nay thuộc ấp Bình Phú, xã Bình Phục Nhứt) cũng là một trong những làng nuôi ngựa của miệt Chợ Gạo – Gò Công. Thời nhỏ, thân phụ của ông cùng nhiều người trong vùng có nuôi ngựa để chở hàng hóa và chở người.

Ông còn nhớ rõ chi tiết, đến lệ cúng đình thần thờ Phó lãnh binh Phan Văn Dõng là cha ông mặc áo dài, đầu đội khăn đóng và cưỡi ngựa qua dự cúng đình. Vì là cháu họ của Phó lãnh binh Phan Văn Dõng, nên khi về, cha ông bao giờ cũng được Ban phụng sự đình gửi biếu cái thủ lợn và đến ngày nay ông cũng được ưu tiên hưởng phần như vậy.

Nguồn Ấp Bắc

Các bài viết cùng chuyên mục